Trước làn sóng phát triển trí tuệ nhân tạo (AI), nhiều mối quan tâm đặt ra về vai trò của AI trong nỗ lực giúp nâng đỡ tâm lý, tham vấn tâm lý. Bài viết này không nhằm mục đích phân tích liệu có nên dùng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hỗ trợ khía cạnh tâm lý hay không, hay sẽ vận dụng thế nào giữa bối cảnh có rất nhiều ý tưởng tích hợp AI trong lĩnh vực này.

Bài viết như một sự soi chiếu, suy ngẫm về những giá trị nhân bản trong một tiến trình tham vấn, về một mối quan hệ mà không thể lập trình được. Điều gì khiến tham vấn tâm lý không thể bị thay thế?

Chằng chịt kết nối trong… nỗi cô đơn

Thống kê từ trang DataReportal (chuyên cung cấp miễn phí các báo cáo và số liệu thống kê toàn cầu về lĩnh vực kỹ thuật số), năm 2025 đánh dấu một năm người dân toàn cầu kết nối mạnh mẽ nhất từ trước đến nay và dự kiến sự kết nối này sẽ tiếp tục gia tăng trong năm 2026. Số liệu thống kê DataReportal dẫn về cho thấy hơn 6 tỷ người trên thế giới đang kết nối internet, hơn 1 tỷ người sử dụng AI mỗi tháng.

Thế nhưng, nghịch lý là những kết nối công nghệ không tỷ lệ thuận với chất lượng kết nối trong đời sống thực. Năm 2023, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đưa “tình trạng cô đơn” vào danh sách những mối đe dọa cấp bách đối với sức khỏe toàn cầu. Cùng năm, WHO đã thiết lập Ủy ban Kết nối Xã hội nhằm ứng phó với mối đe dọa này.

Đến thời điểm hiện tại, hàng loạt báo cáo quốc tế vẫn không ngừng cảnh báo về một “đại dịch cô đơn”. Giữa thế giới chằng chịt những kết nối, con người lại khó tìm kiếm cảm giác mình đang thuộc về những kết nối lành mạnh, một yếu tố quan trọng góp phần vào sức khỏe tâm thần của mỗi cá nhân.

Như một vòng lặp, người ta tìm đến AI bởi những dòng trò chuyện cho họ không gian được “lắng nghe” tức thời, không phán xét, không sợ bị hiểu lầm (từ bài viết “Why People Trust AI More Than Humans: A Story of Loneliness” của tác giả Stephen Klein – nhà sáng lập Curiouser.AI), nhưng càng sử dụng AI, người ta càng cô đơn. Nhiều nghiên cứu cho thấy việc sử dụng AI cao có liên quan đến tình trạng gia tăng cảm giác cô đơn, dần bị phụ thuộc cảm xúc vào công cụ AI và có khuynh hướng ít giao tiếp xã hội (từ bài viết “Heavy ChatGPT users tend to be more lonely, suggests research” trên tờ Guardian). Vậy phía sau những kết nối chằng chịt ấy, con người đang thiếu điều gì?

Khi thế giới có những nghiên cứu dành nhiều sự quan tâm đến việc phát triển AI trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần, hỗ trợ tâm lý con người thì câu hỏi đặt ra trong tôi không phải là “AI có thay thế người làm tham vấn không?” hay “AI sẽ đồng hành nâng đỡ tâm lý khách hàng tốt như thế nào?”. Chính từng cá nhân trong trải nghiệm thực tế của mình có thể cảm nhận được mình có thật sự được thấu hiểu, được nâng đỡ qua những đoạn trò chuyện cùng AI hay không.

Một mối quan hệ không thể lập trình

Tham vấn là một mối quan hệ nghề nghiệp không có sự kiểm soát quyền lực, là sự ngang hàng trong tiến trình đồng hành, nâng đỡ.

AI, đặc biệt là AI tạo sinh (Generative AI) học các mẫu từ dữ liệu được nhận, không thể tự mình phân biệt đúng/sai, rồi dự đoán đầu ra hợp lý nhất dựa trên xác suất. Vì thế, những câu trả lời, phản hồi, chia sẻ không đến từ suy nghĩ, quan điểm của AI mà đến từ quá trình xử lý mẫu ở quy mô khổng lồ. Vì thế, ở AI sẽ không có năng lực đánh giá chủ quan, không có sự thấu hiểu ngữ cảnh xã hội – lịch sử như con người, không hiện thân, không có những nhận thức đời thường, hoàn toàn phụ thuộc dữ liệu và cách được đào tạo.

Trong một thế giới mà mọi người có thể chỉ cần gõ câu hỏi, kết quả hiện lên ngay trong tích tắc, người ta hình dung một tương lai con người bị thay thế trong nhiều lĩnh vực. Liệu sự thay thế ấy sẽ diễn ra hay chính sự phát triển của công nghệ nói chung và AI nói riêng sẽ tạo nên cơ hội cho sự đối chiếu, tô đậm thêm những đặc điểm của mối quan hệ người – người?

Khi nghĩ về điều này, tôi hình dung một sự chuyển dịch từ mong đợi “hỏi AI” nhằm giải quyết vấn đề khó khăn về mặt tâm lý hay tìm kiếm sự nâng đỡ từ sự hồi đáp thông qua những cuộc trò chuyện với AI đến tâm thế đón nhận một hành trình khám phá bản thân, chấp nhận và chuyển mình. Sự chuyển dịch này đưa chúng ta đến hình dung rõ nét về tham vấn tâm lý, là nơi hai con người cùng hiện diện và kết nối.

Từ “sửa chữa” đến “đón nhận”

Một người gặp khó khăn về tâm lý, liệu có phải họ có điều gì đó sai cần phải sửa? Khi đã quá quen với tư duy tìm ra giải pháp, sửa chữa những sai sót, một người sẽ cảm thấy bối rối khi đối diện với điều bản thân không thể thay đổi ngay được, không thể phân định đúng – sai một cách rõ ràng được. Ví dụ, một người thường trì hoãn trong mọi việc, họ cảm thấy bản thân luôn trong trạng thái loay hoay, bứt rứt, vừa lo lắng, căng thẳng, vừa tự trách bản thân. Họ biết rằng phải có một lịch làm việc, sinh hoạt khoa học hơn nhưng họ vẫn không thể bắt đầu cho những bước đầu tiên của công việc cần làm. Chính bản thân họ cũng không thể hối thúc sự sửa chữa xảy ra ngay lập tức.

Một đúc kết của Carl Rogers rất có giá trị trong tham vấn tâm lý: “Có một nghịch lý kỳ lạ là khi tôi chấp nhận bản thân như là chính tôi thì tôi bắt đầu thay đổi được mình”.

Người có thói quen trì hoãn vừa đề cập không thể thay đổi nhanh được nếu họ không nhận ra điều gì khiến mình trì hoãn, liệu có phải sự lười biếng không hay đó là cảm giác hoang mang chưa biết bắt đầu từ đâu, hay cảm giác muốn hoàn thiện công việc ở mức tốt nhất nên phải chờ đến khi nào có ý tưởng hoàn hảo, v.v.. Để chạm đến được điểm chấp nhận bản thân, một người không chỉ cần có sự nỗ lực, cố gắng hay suy nghĩ logic mà họ cần có một quá trình quan sát, đón nhận, chấp nhận bản thân với lòng tự trắc ẩn, thấy rõ mình đang ở đâu và từng bước chuyển hóa bản thân khi họ đã đón nhận trọn vẹn con người mình.

Có người có thể tự nâng đỡ mình, cũng có người cảm thấy rất khó khăn vì sẽ liên tục rơi vào vòng lặp chỉ trích bản thân. Người tham vấn khi ấy sẽ ở bên cạnh giúp khách hàng nhận ra không cần hối thúc sự sửa chữa mà hãy kiên nhẫn trong hành trình chuyển mình và can đảm đón nhận toàn diện con người mình.

Sẽ thế nào khi người tham vấn không có sự thực hành cá nhân đủ để có thể bình tâm cùng khách hàng đi qua đoạn gập ghềnh với rất nhiều sự đón nhận mà khách hàng cần dành cho bản thân họ?

Sẽ thế nào nếu người tham vấn mong muốn nhanh chóng gạt bỏ những niềm tin phi lý hay kỳ vọng sai lầm từ khách hàng thay vì cho họ thời gian nhận ra và đi đến thay đổi?

   Từ “kỹ thuật” đến “hiện diện”

AI có thể học được hình thức của kỹ thuật tham vấn. AI có thể phản hồi cảm xúc với nội dung: “Tôi nghe được bạn đang cảm thấy…”, “Nghe có vẻ như điều đó làm bạn…?”. Bên cạnh đó là kỹ năng đặt câu hỏi mở như: “Bạn có thể kể thêm cho tôi về…?” hay phản hồi lại: “Nếu tôi hiểu đúng bạn đang nói rằng…”. Một người “trò chuyện” với AI đôi khi cảm thấy mình được lắng nghe và an ủi (điều họ khó cảm nhận được trong đời thường) khi đọc/nghe được: “Trải nghiệm ấy thật không dễ dàng với bạn…”. Có phải AI biết lắng nghe, có khả năng thấu cảm với con người không?

Thực chất lời đáp lại đó là kết quả dự đoán đầu ra hợp lý nhất dựa trên xác suất của những dữ liệu đã được huấn luyện trước đó. AI không phải là một đại diện ngồi xuống lắng nghe và phản hồi bằng bản sắc của riêng một cá nhân nào. Nó không biết bạn đang “đau” ở đâu mà chỉ tính xem câu gì có xác suất hợp ngữ nghĩa cao nhất để nói tiếp.

   Sẽ ra sao nếu trong những phiên làm việc, chuyên viên tham vấn được trang bị những kỹ năng, kỹ thuật, kiến thức tốt nhất nhưng lại không thể hiện diện như một con người thật?
     Sẽ ra sao nếu họ không có sự tập trung vào kết nối, không có sự nhất quán, không có bản sắc của riêng mình và không có cách tiếp cận tạo được không gian an toàn, tin cậy cho người đối diện?

Như tác giả Stephen Klein đã nhắc đến, con người tìm đến AI vì họ không bị phán xét, không bị hiểu lầm. Nhưng nơi ấy cũng sẽ không có sự thấu cảm, lòng trắc ẩn của con người thật, điều mà những nghiên cứu chỉ ra là yếu tố tạo nên cảm giác an toàn thật sự bởi sự hiện diện của một mối quan hệ lành mạnh.

Bác sĩ Daniel J. Siegel, bác sĩ tâm thần, giáo sư tại UCLA và là tác giả hàng đầu về sinh học thần kinh liên cá nhân từng viết: “Việc giúp đỡ những người đau khổ về tinh thần được thực hiện thông qua quá trình vun đắp sự tích hợp liên cá nhân. Làm thế nào chúng ta có thể đạt được điều này? Chúng ta vun đắp trạng thái an lạc và trạng thái tích hợp thông qua các mối quan hệ tràn ngập sự hiện diện trị liệu. Sự hiện diện là cánh cổng để sự tích hợp xuất hiện”. Có thể hiểu trạng thái thần kinh của khách hàng trở nên dịu xuống, an lạc hơn khi họ cảm nhận được chuyên viên tham vấn hiện diện với họ một cách vững vàng, đủ đầy.

Sự hiện diện trong tham vấn có nghĩa là người tham vấn hoàn toàn, chân thực và chú tâm “sống trọn khoảnh khắc” với thân chủ, mang toàn bộ con người họ (tâm trí, cơ thể, tinh thần) vào phiên làm việc, tạo ra một không gian tương tác an toàn, đồng điệu và đáp ứng, nơi thân chủ cảm thấy được nhìn nhận, lắng nghe và an toàn để khám phá những trải nghiệm sâu sắc, thúc đẩy sự thay đổi trị liệu thực sự vượt ra ngoài các kỹ thuật đơn thuần. Đó là việc “ở bên” (being with) chứ không chỉ là “làm gì đó” (doing) hay “sửa chữa” (fixing).

Bác sĩ Daniel J. Siegel, bác sĩ tâm thần, giáo sư tại UCLA và là tác giả hàng đầu về sinh học thần kinh liên cá nhân từng viết: “Việc giúp đỡ những người đau khổ về tinh thần được thực hiện thông qua quá trình vun đắp sự tích hợp liên cá nhân. Làm thế nào chúng ta có thể đạt được điều này? Chúng ta vun đắp trạng thái an lạc và trạng thái tích hợp thông qua các mối quan hệ tràn ngập sự hiện diện trị liệu. Sự hiện diện là cánh cổng để sự tích hợp xuất hiện”. Có thể hiểu trạng thái thần kinh của khách hàng trở nên dịu xuống, an lạc hơn khi họ cảm nhận được chuyên viên tham vấn hiện diện với họ một cách vững vàng, đủ đầy.

Sự hiện diện trong tham vấn có nghĩa là người tham vấn hoàn toàn, chân thực và chú tâm “sống trọn khoảnh khắc” với thân chủ, mang toàn bộ con người họ (tâm trí, cơ thể, tinh thần) vào phiên làm việc, tạo ra một không gian tương tác an toàn, đồng điệu và đáp ứng, nơi thân chủ cảm thấy được nhìn nhận, lắng nghe và an toàn để khám phá những trải nghiệm sâu sắc, thúc đẩy sự thay đổi trị liệu thực sự vượt ra ngoài các kỹ thuật đơn thuần. Đó là việc “ở bên” (being with) chứ không chỉ là “làm gì đó” (doing) hay “sửa chữa” (fixing).

Từ “kiểm soát” đến “vị thế không biết”

Con người có khuynh hướng chọn sự chắc chắn giúp mang lại cảm giác an toàn vì có thể kiểm soát được tình huống, nắm bắt được cách thức và giải pháp. AI đáp ứng điều này rất tốt vì nó được thiết kế để luôn tạo ra câu trả lời. Các mô hình ngôn ngữ lớn (LLMs) hoạt động bằng cách dự đoán dữ liệu văn bản theo xác suất cao nhất. Nghĩa là, nhiệm vụ của công cụ AI được mặc định phải trả lời, phải lấp được khoảng trống, tạo được cảm giác thỏa mãn nhu cầu tìm kiếm câu trả lời tức thì. AI được huấn luyện qua kỹ thuật Học tăng cường từ phản hồi của con người (RLHF) nên nó không được khuyến khích im lặng, cũng sẽ không thể dừng lại và thừa nhận “tôi không biết”.

Sẽ thế nào khi người làm tham vấn không thể đứng ở “vị thế không biết”, lo lắng và không thể để cho khoảng không gian từ mơ hồ đến sáng rõ ấy tồn tại?

Trong khi đó, “vị thế không biết” không phải là hoàn toàn không biết, bỏ qua sự tìm kiếm hay hiểu biết mà đó là tâm thế của sự chủ động chừa ra một khoảng riêng cho sự phát triển tự do, phi tuyến tính, không theo bất cứ dự đoán, kỳ vọng hay sự dẫn dắt nào. Đó là đoạn không dễ đối diện trong đời thường mỗi người lẫn trong phiên tham vấn. Khi hiện diện bên khách hàng, chuyên viên tham vấn hiện diện cả trong không gian đang phủ lấp bởi sự mơ hồ. Nhưng trong chính sự hỗn độn, mơ hồ ấy là tia hy vọng của việc dám bước tiếp, dám giành lại quyền làm chủ quyết định từ khách hàng. Họ dám bước đi mà không còn bám víu vào sự chắc chắn, họ chọn chịu trách nhiệm vì lúc ấy, kết quả không quan trọng bằng tiến trình họ nhận diện và phát triển bản thân. AI không làm được điều này vì “bận rộn” xoay quay những câu trả lời.

Đôi khi, người thực hành tham vấn không chấp nhận chính những khoảng im lặng, không biết của bản thân. Trong phiên tham vấn, họ càng khó đón nhận khoảng yên lặng giữa mình và khách hàng, không chừa ra được khoảng trống nội tâm cho những diễn tiến tiếp theo, những diễn tiến mà họ không cần phải kiểm soát. Chính diễn tiến phi tuyến tính ấy tạo nên những phiên làm việc mang dấu ấn duy nhất, không thể được lập trình.

Từ “tìm giải pháp” đến “củng cố nội lực

Trong những trải nghiệm cá nhân và khi được nghe từ câu chuyện của những đồng nghiệp, tôi nhận ra một trong những rào cản có thể gây trở ngại quá trình làm việc chính là mong muốn tìm kiếm một hoặc một vài giải pháp cụ thể từ khách hàng. Có người chưa hiểu rõ tham vấn là gì, họ tìm đến chuyên viên tham vấn với mong muốn giải quyết ngay vấn đề, khó khăn họ đang có. Có người đã được giải thích tiến trình tham vấn không cung cấp giải pháp mà chính khách hàng sẽ là người nhìn thấy, lựa chọn giải pháp cho mình.

   Sẽ thế nào nếu chuyên viên tham vấn không thể để yên cho khách hàng đưa ra lựa chọn, thay vào đó liên tục cung cấp câu trả lời và giải pháp?   

Tìm giải pháp chính là mong chờ một lời hướng dẫn. Trong khi đó, người làm tham vấn sẽ tạo không gian cho mối quan hệ nghề nghiệp phát triển, nơi mà khách hàng can đảm giành lại quyền làm chủ cuộc đời từ sự củng cố bên trong họ.

Về nhu cầu tìm kiếm giải pháp của khách hàng, AI có khả năng đáp ứng vì nó được huấn luyện để đưa ra kết quả được trông đợi. Nhưng không phải câu chuyện nào của khách hàng cũng cần phải có giải pháp. Chuyên viên tham vấn sẽ giúp khách hàng nhận diện đâu là vấn đề thực sự cần có giải pháp, đâu là vấn đề ngoài khả năng kiểm soát, và đâu là bối cảnh, hoàn cảnh không thể có được giải pháp duy nhất mà đòi hỏi sự chấp nhận, thích nghi. Quá trình nhận diện này cũng chính là quá trình khách hàng trở lại quan sát lối suy nghĩ, phản ứng cảm xúc, xu hướng hành vi của mình, từ đó củng cố nội lực cho chính mình.

Từ chỗ chỉ mong chờ giải pháp, khách hàng học được cách thích ứng tích cực trước những tác nhân gây căng thẳng, đây chính là điểm chuyển mình quan trọng giúp khách hàng củng cố năng lực phục hồi, sự bền bỉ nội tâm, linh hoạt tâm lý, từng bước xây dựng đời sống tâm lý khỏe mạnh.

Nguyễn Như Quỳnh

***Bài đã đăng trên Bản tin Nghề Tham vấn Tâm lý số 09 – Bản sắc nghề. Mời bạn đọc thêm.