Càng gắn bó với công việc tham vấn tâm lý, tôi càng nhận ra có rất nhiều “hiểu lầm”, “hiểu sai” về sức khỏe tâm thần đã gây ra rào cản rất lớn đối với nỗ lực tìm kiếm sự hỗ trợ giúp ích cho bản thân. Góc nhìn dựa trên lý thuyết truyền thông giúp tôi nhìn thấy một bức tranh rộng hơn trong hành trình theo đuổi công việc của một người trợ giúp. Để chuẩn bị cho những tiến trình đồng hành có thể xảy ra, đó không chỉ là sự tập trung vào những phiên làm việc cá nhân mà tôi còn chú trọng vào việc mình sẽ truyền thông về tham vấn tâm lý như thế nào, về sức khỏe tâm thần ra sao. Giữa bối cảnh quá dư thừa thông tin về tâm lý học, về sức khỏe tâm thần thì vẫn có một khoảng trống rất lớn về truyền thông. Truyền thông làm sao để mang lại hiểu biết đúng và giúp ích cho công chúng?

Nghịch lý thời đại: Càng nhiều không có nghĩa là càng tốt

Không phải chúng ta thiếu truyền thông về sức khỏe tâm thần, mà là truyền thông hiện tại đang tạo ra một khoảng trống giữa hiểu biết và tự nhận thức. Khi khoảng trống này xuất hiện, con người có xu hướng dùng khái niệm để thay thế trải nghiệm, dẫn đến dán nhãn, hiểu sai và ngày càng xa rời chính mình.

“Chỉ cần nghĩ tích cực, biết ơn mỗi ngày, và bạn sẽ vượt qua trầm cảm” – Bạn có thường gặp những câu nói này ở các bài đăng trên mạng xã hội không? Không khó để một người tìm kiếm một tài liệu/nguồn thông tin giúp họ trả lời cho câu hỏi “Tôi đang gặp vấn đề tâm lý gì?” hay “Tôi nên làm gì để thoát khỏi tình trạng hiện tại”, nhưng không chắc nội dung họ đọc là đúng và giúp ích được cho họ, thậm chí đôi khi là gây hại.

Tờ Guardian năm 2025 đã tìm hiểu và chỉ ra 52% video đang thịnh hành hàng đầu trên TikTok có gắn thẻ #mentalhealthtips cung cấp lời khuyên về sức khỏe tâm thần có chứa thông tin sai lệch, theo một cuộc điều tra của tờ Guardian. Khảo sát của Guardian cũng cho thấy ngày càng có nhiều người tìm đến mạng xã hội để được hỗ trợ về sức khỏe tâm thần, tuy nhiên các nghiên cứu cho thấy nhiều người ảnh hưởng” (influencer) đang lan truyền thông tin sai lệch, bao gồm việc sử dụng sai ngôn ngữ trị liệu, đưa ra các giải pháp “nhanh chóng” và những tuyên bố không đúng sự thật. Những người đang tìm kiếm sự giúp đỡ phải đối mặt với những lời khuyên đáng ngờ, chẳng hạn như ăn một quả cam khi đang tắm để giảm lo âu; quảng bá các loại thực phẩm bổ sung có ít bằng chứng khoa học về hiệu quả trong việc giảm lo âu như nhụy hoa nghệ tây (saffron), hợp chất magnesium glycinate và hương nhu (holy basil), các phương pháp chữa lành chấn thương tâm lý chỉ trong một giờ; và những hướng dẫn coi các trải nghiệm cảm xúc bình thường là dấu hiệu của rối loạn nhân cách ranh giới hoặc bị lạm dụng.

sức khỏe tâm thần

Có lẽ việc một khách hàng tìm đến chuyên viên tâm lý và tự nhận bản thân đang có một rối loạn nào đó không phải là điều hiếm gặp trong bối cảnh thực hành ở Việt Nam. Ở vị trí chuyên viên tham vấn tâm lý, tôi luôn đặt cho mình câu hỏi: “Những nội dung truyền thông về sức khỏe tâm thần có phải đang tạo nên môi trường quá dễ dàng để một người tự dán nhãn cho mình như thế không?”. Một người có khuynh hướng lo lắng về những điều họ không chắc chắn và dễ dàng được cho là có Rối loạn lo âu. Sự dễ dãi ấy kéo theo những nhãn dán (label) và cũng tạo ra những sự kỳ thị (stigma) về trải nghiệm sống của một con người.

Bossa Health. (n.d.) cho rằng sự phổ biến rộng khắp của mạng xã hội đã biến nó từ một phương tiện tương tác xã hội thành một nguồn thông tin chính, bao gồm cả nội dung liên quan đến sức khỏe. Khi khả năng truy cập internet trên toàn cầu tăng lên, ranh giới giữa kiến thức chuyên môn và ý kiến cá nhân ngày càng trở nên mờ nhạt. Sự gia tăng thảo luận công khai về sức khỏe tâm thần là một tín hiệu tích cực trong nhiều xã hội. Tuy nhiên, việc các chủ đề về sức khỏe tâm thần trở nên phổ biến hơn lại không đi kèm với sự gia tăng tương xứng về hiểu biết (literacy) trong lĩnh vực này. Chuyên gia John Piacentini (Tiến sĩ, Giáo sư tâm thần học tại Đại học California, Los Angeles, Mỹ), nhận xét: “Nhưng hiện nay, nhân danh việc nâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thần, chúng ta cũng đang chứng kiến một dạng “thiếu hiểu biết” về sức khỏe tâm thần”.

Lỗ hổng này không chỉ là câu chuyện ở Việt Nam mà bất cứ ai quan tâm đến những thông tin dựa trên chứng cứ khoa học về sức khỏe tâm thần cũng nhận ra đây là chuyện của rất nhiều quốc gia trong thời đại thông tin được lan truyền nhanh mà thiếu sự kiểm chứng. Là một người thực hành tham vấn tâm lý, tôi không muốn dừng lại ở vai trò của mình trong những phiên làm việc mà tôi xem việc truyền thông về sức khỏe tâm thần đặt trong mối liên hệ với tham vấn tâm lý là việc mình cần phải làm.

Những “điểm nhiễu” tạo ra khoảng trống

Khoảng trống không phải do thiếu thông tin, mà do cách thông tin được sản xuất, lan truyền và tiêu thụ.

Ở phần này, tôi đưa vào một số lý thuyết truyền thông giúp nhìn rõ những trải nghiệm của chúng ta trong vai trò người tiêu thụ nội dung, và từng bước nhận diện những “điểm nhiễu” mà chúng ta có thể tránh khi tiếp cận một nội dung về sức khỏe tâm thần.

mô hình truyền thông
Mô hình Giao tiếp tương tác đồng thời/liên tục

Trước tiên, ở khía cạnh môi trường truyền thông, cần nhận diện cách mà các nền tảng truyền thông đang vận hành. Lý thuyết Thiết lập chương trình nghị sự (Agenda-Setting Theory, do Maxwell McCombs và Donald Shaw phát triển năm 1972) cho rằng: Truyền thông không nói cho bạn nghĩ gì, nhưng nói cho bạn nghĩ về điều gì. Với cơ chế này, những chủ đề xuất hiện nhiều, lặp lại, nổi bật sẽ được công chúng cho là quan trọng. Nghĩa là nội dung cần độ phủ và sự quan tâm còn thông tin có chính xác hay không không phải là thứ được ưu tiên. Nếu so sánh một thông tin/nội dung dựa trên chứng cứ khoa học với thông tin/nội dung dựa trên ý kiến cá nhân/chủ quan, thì đâu là thông tin được tạo nhanh hơn? Câu trả lời sẽ dẫn chúng ta đi tiếp. Thông tin được tạo nhanh và dễ dàng mà không cần kiểm chứng sẽ định hình nên những nội dung được quan tâm, dễ tiếp cận công chúng. Trong khi đó, giữa bối cảnh của nền kinh tế toàn cầu mà trong đó sự chú ý của con người là tài nguyên giá trị nhất – nền kinh tế của sự chú ý (attention economy, khái niệm được phát triển từ Herbert A. Simon) cùng với sự phổ biến của thuật toán (algorithm) trên các nền tảng, nội dung càng thu hút sự chú ý đồng nghĩa với việc nội dung ấy càng đắt giá, càng dễ tiếp cận với công chung dựa trên sự phân bổ của thuật toán. Những điều này có nghĩa, chính môi trường truyền thông thông qua các nền tảng và công cụ đang khiến người dùng không có nhiều không gian để dừng lại, cân nhắc và suy nghĩ thêm về nội dung mình lướt phải.

Ở khía cạnh thứ hai là môi trường xã hội. Khi rối loạn được dễ dàng chẩn đoán, khi một khó khăn về mặt tâm lý được hướng đến rằng phải bị loại trừ hay phải được xử lý, khi một trải nghiệm sống bị dán nhãn hay kỳ thị, theo thời gian, cách tiếp cận này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến niềm tin của số đông về những khái niệm liên quan đến sức khỏe tâm thần hay tham vấn tâm lý? Lý thuyết Biểu tượng xã hội (Social Representations Theory) được xây dựng bởi nhà tâm lý học xã hội người Pháp Serge Moscovici vào đầu thập niên 1960 từng đề cập đến hiện tượng này. Đó là khi xã hội chuyển một khái niệm khoa học phức tạp thành một phiên bản dễ hiểu, dễ nhớ, dễ dùng trong đời sống. Song song đó là khái niệm “văn hóa trị liệu” (Therapy Culture – cũng là tựa sách ra mắt năm 2004 của tác giả Frank Furedi). Khái nệm này được nhiều chuyên gia nhắc đến và xem đây là cách phản ánh việc ngôn ngữ và tư duy trị liệu lan rộng ra toàn xã hội và trở thành cách phổ biến để nói về con người. Ví dụ, bạn buồn và muốn ở một mình yên tĩnh, thì sẽ được “hiểu” là “bị trầm cảm”; có những thay đổi về cảm xúc trong những tình huống, bối cảnh khác nhau, thì sẽ được “hiểu” là “bị rối loạn lưỡng cực”, v.v..

Với Mô hình Giao tiếp tương tác đồng thời/liên tục (hình phía trên) thì tính đồng thời thể hiện ở việc người dùng vừa gửi vừa nhận thông điệp trong thời gian thực. Trong khi đó, tính liên tục thể hiện ở việc giao tiếp kéo dài, không bị gián đoạn và có thể mở rộng theo thời gian. Những đặc tính này làm cho quá trình giao tiếp trong bối cảnh hiện nay trở nên linh hoạt, đa chiều và phức tạp hơn nhiều so với trước đây.

Ở khía cạnh những yếu tố cần thiết khi xét về sức khỏe tầm thần, có rất nhiều điều bị bỏ qua. Nội dung ngắn, ấn tượng được nhắc đến ở khía cạnh đầu tiên đã tạo nên sức ép loại bỏ bối cảnh sống, là điều không thể tách rời đời sống của mỗi cá nhân. Bạn thử tìm cụm từ “rối loạn lo âu và trầm cảm ngày càng gia tăng” xem ra được bao nhiêu bài viết có nhắc đến bối cảnh sống của thời đại? Hầu như rất ít. Nội dung phần lớn hướng đến việc nhận diện, phòng chống, xử lý, điều trị. Mô hình Sinh học – Tâm lý – Xã hội (Biopsychosocial Model – của George L. Engel) cho rằng không thể đánh giá một người chỉ dựa trên triệu chứng mà phải xét toàn bộ bối cảnh sống và trải nghiệm. Sức khỏe tâm thần còn được quan sát, đánh giá dựa trên hướng tiếp cận ở góc nhìn, cách cá nhân trải nghiệm và diễn giải thực tại, thay vì chỉ dựa trên dấu hiệu hay chuẩn mực khách quan. Những ý này dường như đã bị loại trừ khỏi những nội dung truyền thông về sức khỏe tâm thần “ăn liền” hiện nay.

Vậy nếu ở vai trò là người tạo nội dung có liên quan đến sức khỏe tâm thần, bạn sẽ chọn cách tiếp cận nào để hạn chế “điểm nhiễu”?

3 nguồn nhiễu này không tách rời mà tác động đồng thời, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, làm thông điệp bị bóp méo, thiếu chiều sâu hoặc lệch hướng.

Trả lại bối cảnh sống, trả lại không gian cho mỗi cá nhân

Có lẽ câu hỏi không phải là chúng ta cần thêm bao nhiêu nội dung về sức khỏe tâm thần, mà là chúng ta cần một cách tiếp cận khác với những nội dung đó. Trong một môi trường truyền thông dày đặc khái niệm, điều cần thiết không phải là chúng ta phải biết bao nhiêu mô hình, bao nhiêu khái niệm mới có thể cảm nhận được trạng thái viên mãn trong đời sống, mà là chúng ta có thể tự phản chiếu, tự nhận ra, tự chấp nhận mình trong những trải nghiệm sống không.

Vì vậy, khoảng trống truyền thông không phải là số lượng thông tin mà chính là khoảng trống dành cho không gian của mỗi cá nhân, của những tương tác con người – con người để cá nhân có thể dừng lại, quan sát, và tiếp xúc một cách đầy tính nhân văn với trải nghiệm của bản thân.

“Kể cả Kinh Thánh, các nhà tiên tri, Freud, hay bất cứ nghiên cứu nào… cũng không quan trọng bằng chính những trải nghiệm mà tôi trực tiếp cảm nhận”. Rogers (1961)

Trong cách tiếp cận thân chủ trọng tâm, con người được nhìn nhận như một tổng thể đang sống và trải nghiệm, thay vì bị thu gọn thành các nhãn chẩn đoán. Dưới góc nhìn của Carl Rogers, con người chỉ có thể được hiểu khi được nhìn như một tổng thể đang trải nghiệm, thay vì bị chia nhỏ thành các nhãn chẩn đoán. Tuy nhiên, trong môi trường truyền thông hiện nay, xu hướng đơn giản hóa và dán nhãn lại đi ngược với cách tiếp cận này. Những khái niệm như trải nghiệm toàn thể (Organismic experience), con người như một tổng thể (The person as a whole), con người có chức năng sống trọn vẹn (Fully functioning person).

Trên hành trình thực hành triết lý lấy con người làm trọng tâm của Carl Rogers, tôi càng nhận ra, truyền thông về sức khỏe tâm thần và truyền thông về tham vấn tâm lý là một bài toán rất thách thức giữa bối cảnh thông tin dày đặc, nhưng lại vô cùng giá trị để theo đuổi.

Khi chia sẻ nội dung liên quan đến lĩnh vực sức khỏe tâm thần, liệu mỗi người sẽ giữ ranh giới như thế nào để không xâm phạm đến không gian ấy của mỗi cá nhân?

Nguyễn Như Quỳnh

***Bài đã đăng trên Bản tin Nghề Tham vấn Tâm lý số 10. Mời bạn đọc thêm.